ĐỊA LÝ VÀ CUỘC SỐNG

Category Archives: Thành phố Hà Nội

Advertisements

Nao lòng với một Hà Nội đẹp dịu dàng các mùa hoa tháng 3

Tháng 3 đến Hà Nội “hát” khúc giao mùa khi trời chuyển mình từ xuân sang hạ, đặc biệt đây cũng là thời điểm mà nhiều con phố ở Thủ đô như được “khoác” áo mới với các màu hoa rực rỡ sắc màu. Nếu ai yêu Hà Nội thì không nên bỏ lỡ thời khắc tuyệt đẹp này.

Hoa sưa

Ở Hà Nội, hoa sưa thường nở vào đầu tháng 3, khi tiết trời bắt đầu ấm áp. Những cánh hoa sưa trắng muốt, tinh tế báo hiệu sự chuyển giao giữa xuân sang hè. Hoa sưa rất nhanh nở và cũng rất chóng tàn. Có khi chỉ qua vài ngày, những tán lá xanh mướt đã được thay thế bởi một màu trắng muốt của hoa. Chính vì cái sự “vội đến rồi lại vội đi” ấy mà những người yêu hoa sưa cũng tranh thủ những ngày này để thưởng hoa và lưu lại những hình ảnh đáng nhớ.

Hoa sưa mọc rải rác ở Hà Nội nhưng đẹp nhất vẫn là ở đường Thanh niên, Hồ Tây, Hồ Giảng Võ và trên phố Đinh Tiên Hoàng… Những cành hoa sưa rủ trắng những con đường khiến cho Hà Nội bỗng trở nên đẹp lãng mạn hơn bao giờ hết.

Không rực rỡ như hoa phượng, không thơm nồng nàn như hoa sữa nhưng vẻ đẹp mong manh, tinh tế của hoa sưa vẫn khiến nhiều người say mê.

Hoa bưởi

Những cánh hoa bưởi trắng tinh khiết, mang mùi thơm dịu từ lâu đã trở thành một biểu tượng không thể thiếu của tháng ba Hà Nội.

Ở Hà Nội, hoa bưởi được trồng thành từng vùng chuyên canh như: Canh Diễn (Từ Liêm), Xuân Mai (Chương Mỹ). Đặt chân đến đây mùa này, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những vườn bưởi nở hoa trắng muốt, tỏa hương thơm ngào ngạt khắp các con đường.

Mùa hoa bưởi về cũng là thời điểm chuyển giao giữa tháng, kết thúc cái se se lạnh của mùa xuân và báo hiệu mùa hè sắp về

Người Hà Nội vẫn thường có thói quen mua hoa bưởi về thắp hương, nấu chè hoặc chỉ đơn giản là lưu giữ chút hương thơm tinh tế của khúc giao mùa tháng 3

Hoa ban

Vào những ngày đầu tháng 3, nhiều tuyến phố ở Hà Nội lại bung nở rực rỡ sắc tím của hoa ban Tây Bắc. Loài hoa mang hương vị núi rừng mang đến cho Thủ đô vẻ đẹp lãng mạn, dịu dàng trong những ngày đầu xuân…

Ở Hà Nội, hoa ban nở đẹp nhất là đường Hoàng Diệu, đường Bắc Sơn, Thanh Niên… Những cánh hoa ban trắng muốt pha sắc tím hồng lãng mạn mang đến hương vị của núi rừng Tây Bắc giữa lòng Thủ đô.

Trong tiếng Thái, “Ban” có nghĩa là “ngọt”, “hoa ban” là “hoa ngọt”, nở rộ đẹp nhất vào cuối tháng 2, đầu tháng 3. Vào thời điểm này, nhiều người yêu thích vẻ đẹp của hoa ban lại tranh thủ ghi lại những bức ảnh làm kỷ niệm.

Cả góc phố như sáng bừng giữa tiết trời se lạnh đầu năm nhờ sắc hoa ban Tây Bắc.

Hoa loa kèn

 

Mỗi dịp cuối tháng 3 đầu tháng 4, khắp các con đường, ngõ phố của Hà Nội lại được tô điểm bởi sắc trắng mộc mạc của những bông hoa loa kèn. Ảnh: Mạnh Thắng

Những gánh hàng hoa chở sắc trắng của hoa loa kèn làm nên nét đặc trưng rất riêng cho Hà Nội. Ảnh: Mạnh Thắng

Ở Hà Nội, hoa loa kèn được bày bán nhiều dọc đường Thanh Niên, Thụy Khuê, Giảng Võ, Nguyễn Chí thanh… Ảnh: Mạnh Thắng

Hoa loa kèn thường được trồng chủ yếu vào tháng 9, tháng 10 nhưng phải chờ đến tháng ba và đầu tháng tư năm sau mới được thu hoạch. Nếu được chăm sóc tốt, một củ giống có thể cho tới 12-15 bông hoa. Ở Hà Nội, làng hoa Tây Tựu và Quảng Bá được xem là vùng trồng nhiều hoa loa kèn nhất.

Advertisements

Sa vào chốn này, cô gái đẹp quên cả lối về

Vườn hoa đa sắc ven sông Hồng (Hà Nội) những ngày đầu đông tấp nập nam thanh nữ tú kéo đến say sưa, quên lối về.

Khu Bãi Đá ven sông Hồng (phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, Hà Nội) những ngày nắng đẹp có hàng trăm người đổ về khoe sắc bên hoa. 3 năm nay, thú chơi hoa cúc họa mi nở rộ khiến người dân Nhật Tân quay trở lại trồng loại hoa đã từng trồng khá nhiều…

Anh Tân (nhân viên làm việc ở Bãi Đá) cho biết, ngoài những loại hoa khác như hoa cải, túy điệp…, dịp này ban quản lý cũng đầu tư trồng nhiều luống cúc họa mi để phục vụ người mê chụp ảnh.

Có lẽ do mùa hoa này chỉ kéo dài khoảng 1 tháng nên những khóm cúc họa mi luôn đông đúc người thưởng lãm và chụp ảnh. Dịp nắng đẹp đầu đông làm lượng người đổ về các vườn hoa ven sông Hồng tăng đột biến. Con đường dẫn vào khu Bãi Đá liên tục ách tắc

photo-0-1480383909891

Những cô gái trẻ không thể kiềm chế trước vẻ đẹp của cảnh vật trên đường vào những vườn hoa…

photo-1-1480383909896

Những luống hoa cải được trồng khá đơn giản thu hút nhiều nhóm bạn trẻ selfie

photo-2-1480383909893

Không kiềm chế được cảm xúc trước vẻ lộng lẫy của vườn hoa túy điệp, cô gái trong ảnh khua gậy chụp ảnh selfie đủ 360 độ

photo-3-1480383909889

Cậu bé tránh nắng dưới luống hoa túy điệp trong khi chờ mẹ “vác” gậy selfie

photo-4-1480383909893

Loay hoay đủ tư thế với chiếc gậy “tự sướng” trong vườn hoa cải trắng li ti.

photo-5-1480383909894

Vườn cúc họa mi thu hút đông người nhất

photo-6-1480383909910

Cánh trai tráng cũng tranh thủ “khua gậy” bên những luống cúc họa mi.

photo-7-1480383909908

Khách cũng có thể mua bó cúc họa mi với giá 30-40 ngàn đồng để ôm “tự sướng”.

photo-8-1480383909915

photo-9-1480383909912

Chen chân trong những vườn cúc họa mi gắng tìm những góc ảnh đẹp nhất có thể

photo-10-1480383909916

Selfie như một cánh tay nối dài giúp người chụp có thể tự ghi lại khoảnh khắc đẹp…

photo-11-1480383909922

Mỗi người một góc, ảnh nào cũng đẹp

photo-12-1480383909923

Những chiếc gậy được xoay tứ phía để ghi bằng được khoảnh khắc ưng ý.

 

Mông Phụ (Hà Nội) – Biểu tượng truyền thống của làng quê Việt

Có nhiều lối vào Đường Lâm, tuy nhiên chiếc cổng cổ còn lại duy nhất của làng cho đến ngày nay nằm ở Mông Phụ. Đây là một trong những cổng làng cổ nổi tiếng nhất Việt Nam.

conglangmongphu1

Cổng làng – nơi lưu giữ hồn quê xứ Đoài

Trong kiến trúc Việt cổ, cổng làng được hiểu như là cánh cửa của một ngôi nhà. Theo đó, kiến trúc này như một dấu hiệu đánh mốc trong với ngoài không gian làng và là một nghi thức trong cấu trúc không thể thiếu của một ngôi làng. Cổng làng Mông Phụ được xây dựng vào thời Hậu Lê, năm 1553, đời vua Lê Thần Tông.

Với người dân Đường Lâm, hình ảnh chiếc cổng làng đã trở nên rất đỗi thân quen, gần gũi trong tâm thức của họ. Đây là nơi phân cách cánh đồng làng với khu vực người dân đang sinh sống. Người đương thời sống sau cái cổng làng và người quá cố được an nghỉ bên ngoài cổng làng. Có thể thấy, cổng làng có vị trí rất quan trọng trong đời sống thực cũng như đời sống tâm linh của người dân Đường Lâm xưa.

lang-co-duong-lam-1368862617

Cũng như những công trình kiến trúc truyền thống khác, phép chọn phương hướng để xây cổng làng bị chi phối bởi thuật phong thủy. Cổng làng Mông Phụ được coi là cổng chính của Đường Lâm, quay mặt về hướng Đông Nam, chếch phía Tây là núi Tổ (núi Tản Viên). Các bậc tiền bối xứ Đoài cho biết, Đông Nam là hướng của gió lành, hướng của mặt trời mọc – hướng phát triển mạnh mẽ, con cháu mai sau sẽ thịnh vượng. Và cũng bởi quay hướng Đông Nam nên giữa trưa hè oi bức, không gian của cổng vẫn mở ra như ống thông gió, hút theo đó những hương vị của cây trái làng quê.

Là nơi phân cách với cánh đồng quê, chiếc cổng làng Đường Lâm hàng ngày “túc trực”, chờ đón người đi làm đồng về. Đây cũng là nơi đầu tiên làng dành đón khách lạ, quan kinh lý, người đăng khoa đỗ đạt, những con dân của làng làm ăn xa quê trở về trong dịp Tết đoàn viên. Những gì mà làng tiếp nhận chính là sự sống, là phúc – lộc. Có thể thấy, ý thức dựng làng, giữ làng để phát triển cho đời sau đã đi vào tâm thức biết bao thế hệ người dân xứ Đoài.

conglangmongphu1

Cổng làng Mông Phụ là một công trình trong quần thể di tích của Đường Lâm, được kết hợp hài hòa với đường làng, cây đa, giếng nước, ao đình, lũy tre xanh và cánh đồng lúa mênh mông. Bao quát quanh cổng là một không gian rộng và thoáng. Một bên cổng làng là cây đa, tương truyền đã hơn 400 năm tuổi và xa xa là hàng dừa xanh mướt, tựa như các cô gái làng đang nhẹ nhàng thả dáng. Với những người con Đường Lâm làm ăn nơi xa, lâu ngày trở lại thăm quê, nhìn thấy cây đa làng thấp thoáng từ xa, họ đã xốn xang vì biết sắp sửa về đến mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình. Và khi bước chân qua cánh cổng làng, họ như đã đạt được sự bình yên trong tâm hồn.

Dấu ấn văn hoá trên cổng làng Mông Phụ

Thông thường, cổng làng truyền thống chỉ làm một lối xây vòm (cuốn tò vò) hoặc vuông góc, trên làm mái. Cổng làng Mông Phụ lại mang nét kiến trúc độc đáo nhà hai mái dốc nằm ngay trên đường vào làng, được dựng theo kiểu “thượng gia hạ môn” (trên là nhà, dưới là cổng). Cổng làng Mông Phụ có trụ đỡ mái và đầu nóc, bên trong có khung gỗ, kèo, hoành, rui. Những chiếc hoành tròn gác trên hai bộ vì “chồng giường, kẻ truyền” tạo nên hai mái cân kiểu nhà tiền tế. Hai mái chảy của cổng làng lợp ngói ri. Bờ nóc, bờ chảy đắp bờ đinh, hai đầu bờ nóc là hai đầu đinh. Chồng rường, hạ bảy trên mặt bằng ba hàng chân cột (một cột cái, hai cột quân), nối hai đầu cột quân là xà ngang, dưới xà ngang là hệ thống con tiện song làm thêm câu đối vinh danh hoặc ca tụng lịch sử – văn hóa của làng. Tất cả điều hay, điều tốt đẹp đều được các bậc túc nho viết thành câu đối khắc trước cổng.

Với truyền thống văn hóa và lịch sử lâu đời, người dân Đường Lâm đã khắc những câu đối đầy ý nghĩa nơi cổng làng. Tại cổng làng Mông Phụ xứ Đoài, ở câu đầu bên tả khắc dòng chữ dịch ra là: “Kỷ Mão mạnh hạ sắc chỉ”, nghĩa là năm Kỷ Mão làng dựng cổng làng. Căn cứ vào nội dung này mà các nhà nghiên cứu đã xác định được niên đại tương đối chính xác của cổng (năm 1553). Câu đầu bên hữu ghi “Thế hữu hưng nghi đại”, với nghĩa là: cần phát huy kế tục những giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của làng quê (tinh thần hiếu học, đoàn kết, thượng võ) và cuộc đời muốn được hưng thịnh cần phải thích nghi. Có thể nói, nội dung lời dặn dò của các bậc tiền nhân ở làng Đường Lâm đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

60728112

Một trong những dấu ấn đặc biệt ở cánh cổng làng xứ Đoài là các con số. Ai đã từng đến thăm Đường Lâm, sẽ thấy số 3 và số 11 lưu dấu trên cánh cổng làng Mông Phụ: 11 song, 11 bản và 3 hàng chân, 3 nẹp sắt, 3 then tàu, 3 chấm tròn. Thuật phong thủy cho rằng, số 11 (theo tư duy 11: 11) là con số tượng trưng cho năng lực tinh thần và số 3 là một con số đặc biệt. Số 3 và 11 trên cổng làng Mông Phụ được tạo ra không chỉ đáp ứng yêu cầu về mặt kiến trúc mà còn có ý nghĩa phong thủy và tâm linh sâu sắc.

Cổng làng từ lâu đã trở thành một công trình văn hóa đặc sắc và luôn tồn tại trong tâm khảm người Việt như là một biểu tượng của văn hóa cộng đồng. Đến với Đường Lâm, sự bình dị của chiếc cổng làng Mông Phụ hiện ra như một lời chào thân thiện của người dân xứ Đoài dành cho du khách, đưa họ bước vào khám phá ngôi làng cổ với cuộc sống mộc mạc, yên bình. Gần nửa thiên niên kỷ đã trôi qua, nhưng những dấu ấn lịch sử – văn hóa của Đường Lâm xưa vẫn còn in đậm nơi cổng làng như một nét đẹp của văn hóa dân tộc.

Theo vietnamtourism

 

Thành phố Hà Nội

Diện tích: 3.324,92km²
Dân số: 6.448.837 người (1/4/2009)
Các quận/huyện: 
– 10 Quận:Hoàn Kiếm, Ba Ðình, Ðống Ða, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Long Biên, Hoàng Mai, Hà Đông.
– 1 thị xã:Sơn Tây.
– 18 huyện:Ðông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm (Hà Nội cũ); Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa (Hà Tây cũ) và Mê Linh (từ Vĩnh Phúc).
Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Mường, Tày, Dao…

Hà Nội là Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Hà Nội nằm ở đồng bằng Bắc bộ, tiếp giáp với các tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía bắc; phía nam giáp Hà Nam và Hoà Bình; phía đông giáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phía tây giáp tỉnh Hoà Bình và Phú Thọ.

Hà Nội nằm ở phía hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng, vị trí và địa thế thuận lợi cho một trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam.

 

Khí hậu: Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ấm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít. Nằm trong vùng nhiệt đới, Hà Nội quanh nǎm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao. Lượng bức xạ tổng cộng trung bình hàng nǎm ở Hà Nội là 122,8 kcal/cm2 và nhiệt độ không khí trung bình hàng nǎm là 23,6ºC. Do chịu ảnh hưởng của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn. Ðộ ẩm tương đối trung bình hàng nǎm là 79%. Lượng mưa trung bình hàng nǎm là 1.800mm và mỗi nǎm có khoảng 114 ngày mưa. Ðặc điểm khí hậu Hà Nội rõ nét nhất là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh. Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa. Nhiệt độ trung bình mùa này là 29,2ºC. Từ tháng 11 đến tháng 3 nǎm sau là mùa đông thời tiết khô ráo. Nhiệt độ trung bình mùa đông 15,2ºC. Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10) cho nên Hà Nội có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Ðông. Bốn mùa thay đổi làm cho thời tiết Hà Nội mùa nào cũng có vẻ đẹp riêng. Mùa tham quan du lịch thích hợp nhất ở Hà Nội là mùa thu. Phần địa hình của Hà Tây (cũ) sáp nhập với Hà Nội, có những đặc điểm riêng nên hình thành những tiểu vùng khí hậu: vùng núi, vùng gò đồi và đồng bằng. Nhưng nói chung sự khác biệt thời tiết và chênh lệch về nhiệt độ giữa các địa phương của Hà Nội hiện nay không lớn.

 Thành phố Hà Nội

Thành phố Hà Nội

 Hồ Trúc Bạch

Hồ Trúc Bạch

Địa hình: Hà Nội có hai dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi. Địa hình đồng bằng chủ yếu thuộc địa phận Hà Nội cũ và một số huyện phía đông của Hà Tây (cũ), chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên, nằm bên hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các sông. Phần lớn địa hình đồi núi thuộc địa phận các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức. Một số đỉnh núi cao như: Ba Vì 1.281m; Gia Dê 707m; Chân Chim 462m; Thanh Lanh 427m; Thiên Trù 378m; Bà Tượng 334m; Sóc Sơn 308m; Núi Bộc 245m; Dục Linh 294m…

Sông ngòi: Hà Nội nằm cạnh hai con sông lớn ở miền Bắc: sông Đà và sông Hồng. Sông Hồng dài 1.183km từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống. Ðoạn sông Hồng qua Hà Nội dài 163km (chiếm khoảng 1/3 chiều dài trên đất Việt Nam, khoảng 550km. Ngoài hai con sông lớn, trên địa phận Hà Nội còn có các sông: Đuống, Cầu, Cà Lồ, Đáy, Nhuệ, Tích, Tô Lịch, Kim Ngưu, Bùi.

Hồ đầm ở địa bàn Hà Nội có nhiều. Những hồ nổi tiếng ở nội thành Hà Nội như hồ Tây, Trúc Bạch, Hoàn Kiếm, Thiền Quang, Bảy Mẫu. Hàng chục hồ đầm thuộc địa phận Hà Nội cũ: hồ Kim Liên, hồ Liên Đàm, đầm Vân Trì… và nhiều hồ lớn thuộc địa phận Hà Tây (cũ): Ngải Sơn – Đồng Mô, Suối Hai, Mèo Gù, Xuân Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn…

Dân cư

Theo số liệu 1/4/1999 cư dân Hà Nội và Hà Tây (cũ) chủ yếu là người dân tộc Việt (Kinh) chiếm tỷ lệ 99,1%; các dân tộc khác: Dao, Mường, Tày chiếm 0,9%. Năm 2006 cũng trên địa bàn Hà Nội và Hà Tây (cũ) cư dân đô thị chiếm tỷ lệ 41,1% và cư dân nông thôn là 58,1%; tỷ lệ nữ chiếm 50,7% và nam là 49,3%. Mật độ dân cư bình quân hiện nay trên toàn thành phố là 1875 người/km2, cư dân sản xuất nông nghiệp khoảng 2,5 triệu người.

Giao thông

Từ thủ đô Hà Nội, có thể đi khắp mọi miền đất nước bằng các loại phương tiện giao thông đều thuận tiện.

Đón khách du lịch

Đón khách du lịch

Khách du lịch

Khách du lịch

Đường không: sân bay quốc tế Nội Bài (nằm ở địa phận huyện Sóc Sơn, cách trung tâm Hà Nội chừng 35km). Sân bay Gia Lâm, vốn là sân bay chính của Hà Nội từ trước những năm 70 thế kỷ 20. Bây giờ là sân bay trực thăng phục vụ bay dịch vụ, trong đó có dịch vụ du lịch.

Đường bộ: Xe ô tô khách liên tỉnh xuất phát từ các bến xe Phía Nam, Gia Lâm, Lương Yên, Nước Ngầm, Mỹ Đình toả đi khắp mọi miền trên toàn quốc theo các quốc lộ 1A xuyên Bắc – Nam; quốc lộ 2 đi Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang; quốc lộ 3 đi Thái Nguyên, Cao Bằng; quốc lộ 5 đi Hải Phòng, Quảng Ninh; quốc lộ 6 đi Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu…

Đường sắt: Hà Nội là đầu mối giao thông của 5 tuyến đường sắt trong nước. Có đường sắt liên vận sang Bắc Kinh (Trung Quốc),  đi nhiều nước châu Âu.

Đường thuỷ: Hà Nội là đầu mối giao thông quan trọng với bến Phà Đen đi Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Việt Trì; bến Hàm Tử Quan đi Phả Lại.

Văn hóa – Du lịch

Hà Nội hiện có trên 4.000 di tích và danh thắng, trong đó được xếp hạng quốc gia trên 1.000 di tích và danh thắng (hàng trăm di tích, danh thắng mới được sáp nhập từ Hà Tây và Mê Linh) với hàng trăm đền, chùa, công trình kiến trúc, danh thắng nổi tiếng.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Văn Miếu – Quốc Tử Giám

Rồng đá ở điện Kính Thiên

Rồng đá ở điện Kính Thiên

Hà Nội là một trung tâm du lịch lớn ở Việt Nam. Du khách có dịp khám phá nhiều công trình kiến trúc văn hóa – nghệ thuật xây dựng qua nhiều thế hệ, trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Những danh thắng tự nhiên đẹp và quyến rũ; những làng nghề thủ công tồn tại hàng trăm năm; những lễ hội truyền thống – sản phẩm văn hóa kết tinh nhiều giá trị tinh thần… sẽ là những sản phẩm du lịch hấp dẫn.

Không phải Hà Nội vào cuối thế kỷ 20 mới có được bấy nhiêu điều kiện thuận lợi mà từ lâu, từ ngày vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Ðại La để lập kinh đô Thăng Long vào tháng bảy năm Canh Tuất (1010), trong “Chiếu dời đô”, vị vua khai sáng triều Lý (1010-1225) đồng thời khai sáng cho Thăng Long – Hà Nội đã chỉ ra.

Theo vietnamtourism