ĐỊA LÝ VÀ CUỘC SỐNG

Trang chủ » Phương pháp dạy học

Category Archives: Phương pháp dạy học

Advertisements

PHÁT HIỆN MỐI LIÊN HỆ NHÂN QUẢ GIÚP HỌC TẬP ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN ĐẠI CƯƠNG THÚ VỊ HƠN

Phần Địa lí tự nhiên đại cương trong chương trình kiến thức Địa lí THPT tương đối trừu tượng, để học tốt phần này đòi hỏi các em phải có nhiều kĩ năng, sự tư duy linh hoạt, nhạy bén và sử dụng kiến thức của nhiều bộ môn để giải quyết. Đặc biệt một kĩ năng không thể thiếu là phát hiện các mối liên hệ nhân quả. Việc phát hiện các mối liên hệ nhân quả trong phần Địa lí tự nhiên đại cương sẽ giúp các em thích thú hơn với phần học này, đặc biệt là giúp chúng ta giải thích và dự báo được các hiện tượng tự nhiên đang diễn ra xung quanh.

Các mối liên hệ nhân quả là loại kiến thức phổ biến trong địa lí, đặc biệt phần Địa lí tự nhiên đại cương. Mối liên hệ nhân – quả là những mối liên hệ biểu thị tương quan phụ thuộc một chiều giữa các sự vật, hiện tượng và quá trình địa lý.

Việc giải thích các hiện tượng địa lí phần lớn phải dựa vào các mối liên hệ này. Các mối liên hệ nhân quả có nhiều loại khác nhau. Có những mối liên hệ đơn giản (chỉ có một nguyên nhân và một kết quả), ví dụ: mối liên hệ giữa độ cao địa hình và nhiệt độ không khí, nhiệt độ và khí áp, độ ẩm và khí áp, cấu tạo của đá và nước ngầm, chế độ mưa và nhiệt với chế độ nước sông, dòng biển với lượng mưa ven bờ đại dương, đá mẹ và thổ nhưỡng, khí hậu và sự phân bố sinh vật,… Có những mối liên hệ nhân quả phức tạp (một nguyên nhân gây ra nhiều kết quả, hay nhiều nguyên nhân gây ra một kết quả), ví dụ : vận động tự quay quanh trục của Trái Đất đã gây ra các hệ quả như sự luân phiên ngày đêm, chuyển động biểu kiến hằng ngày của các thiên thể, giờ trên Trái Đất, sự lệch hướng chuyển động của các vật thể; hay sự phân bố nhiệt độ trên Trái Đất chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, như : hình dạng và vị trí của Trái Đất so với Mặt Trời, sự phân bố lục địa và biển, các dòng biển nóng và lạnh,…. Các nguyên nhân và kết quả liên tục kế tiếp nhau tạo ra một chuỗi mối liên hệ nhân quả, ví dụ : ở thảo nguyên với khí hậu lục địa nửa khô hạn có thực vật chủ yếu là cỏ, tạo nên đất đen có tầng mùn dày; ở sườn núi, khi lên cao, nhiệt độ, lượng mưa và áp suất không khí thay đổi, do đó sinh vật phân bố theo từng vành đai thẳng đứng cũng khác nhau; địa hình có tác động đến sự phân bố lại lượng nhiệt và ẩm trong đá mẹ, nhiệt và ẩm đó có tác động đến chiều hướng và cường độ của quá trình hình thành đất,…

Trong quá trình học tập phần Địa lí tự nhiên đại cương, để đạt hiệu quả cao các em cần tự mình phát hiện và hình thành các mối liên hệ nhân quả bằng cách tự xây dựng các giả thuyết, đưa ra kết luận, hay tự đưa ra các câu hỏi rồi dựa trên các mối liên hệ nhân quả đề trả lời. Sau đây, xin giới thiệu đến các em một số mối liên hệ nhân quả trong chương trình Địa lí tự nhiên đại cương lớp 10:

1. Giải thích sự hình thành các dạng địa hình trên Trái Đất

Nhân: Qúa trình nội, ngoại lực.

Qủa: Các dạng địa hình trên Trái Đất

2. Giải thích hiện tượng mùa trên Trái Đất 

Nhân: 

– Trái Đất chuyển động xung quanh Mặt Trời

– Trục Trái Đất nghiêng và không đổi phương trong quá trình chuyển động
 
Qủa: Nửa cầu hướng về phía MT là mùa nóng, nửa cầu xa MT là mùa lạnh, gây nên hiện tượng mùa.

3. Giải thích hiện tượng fơn

Nhân: Gió mát và ẩm thổi gặp sườn núi chắn gió, bị đấy lên cao, khi sang sườn bên kia nhiệt độ tăng, không khí khô.

Qủa: Gió khô và nóng (gió fơn)

4. Giải thích đất trên Trái Đất phong phú đa dạng

Nhân: Đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình, thời gian, con người dưới sự tác động của từng nhân tố và mối quan hệ giữa các nhân tố.

Qủa: Đất trên Trái Đất phong phú đa dạng.

Trên đây là một số ví dụ về các mối liên hệ nhân quả đơn giản, phổ biến trong tự nhiên. Các em có thể  tự mình thiết lập thêm các mối liên hệ nhân quả để học tốt hơn phần Địa lí tự nhiên đại cương, đặc biệt giúp các em có thể dự báo trước được những vấn đề về Địa lí tự nhiên căn cứ vào các hiện tượng Địa lí đã và đang diễn ra xung quanh chúng ta.

(Theo GV: Nguyễn Thị Như Trang)

Advertisements

Dạy học theo dự án có tích hợp công nghệ thông tin (CNTT) và ứng dụng CNTT trong giảng dạy Địa lý ở trường phổ thông.

Mở đầu

Trong những năm gần đây, để thực hiện nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học trong môn Địa lý, các giáo viên đã sử dụng rất nhiều phương pháp theo hướng dạy học tích cực, trong đó có thể kể đến các phương pháp như: phương pháp đàm thoại gợi mở, phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm, phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ, phương pháp đóng vai,…

Trong nhóm các phương pháp dạy học theo hướng tích cực, có một phương pháp ( hay cách dạy học) rất có tiềm năng và có thể đáp ứng được rất nhiều yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt lại rất phù hợp với nội dung giảng dạy của môn Địa lý – đó là phương pháp dạy học theo dự án (Project Based Learning – PBL). Đặc biệt trong xã hội tràn ngập thông tin và mạng Internet thì việc sử dụng phương pháp dạy học theo dự án có tích hợp công nghệ thông tin (CNTT) vào trong quá trình dạy học môn Địa lý ở nhà trường phổ thông là một trong các cách dạy học rất đáng được các giáo viên quan tâm và sử dụng trong quá trình giảng dạy của mình.

Hãy tưởng tượng có hai lớp học môn Địa lý lớp 12. Tại lớp học đầu tiên, học sinh ngồi trật tự theo hàng lối, ghi chép trong khi giáo viên đứng trước lớp giảng về vùng cây ăn quả lớn của nước ta. Các em hạn chế phát biểu trình bày ý kiến mà chỉ được phép nói khi trả lời các câu hỏi của giáo viên. Ngay những câu hỏi này cũng yêu cầu học sinh phải trả lời đúng đáp án. Những học sinh thụ động này chỉ ngồi nghe giảng và tiếp nhận thông tin.

Trong một lớp học khác ở tầng dưới, học sinh ngồi và học theo mô hình nhóm cộng tác. Những học sinh này cũng tìm hiểu về vùng cây ăn quả lớn của nước ta. Tuy nhiên các em thảo luận rất rôm rả trong khi chuẩn bị đóng vai các chuyên viên của Viện nghiên cứu giống cây trồng Miền Nam, được giao nhiệm vụ giới thiệu về một số loại trái cây nổi tiếng của Nam bộ trong một hội thảo được tổ chức tại một lễ hội trái cây diễn ra hàng năm tại TP.HCM. Học sinh rất thích thú với những thông tin tìm được trên mạng Internet. Giáo viên đi đến từng nhóm, tham gia thảo luận, đưa ra các câu hỏi cùng học với học sinh của mình. Giáo viên giúp học sinh sử dụng công nghệ thông tin để tìm kiếm các loại trái cây thích hợp. Những học sinh trong lớp học thứ hai này được nói, chia sẻ, cộng tác và tự tìm thấy những thông tin có ý nghĩa cho bản thân.

Sự khác biệt giữa hai lớp học này rất rõ nét. Lớp học đầu tiên dựa trên mô hình truyền thống, học tập dựa trên nội dung bài giảng. Lớp học thứ hai sử dụng cách học dựa trên dự án có ứng dụng công nghệ thông tin.

Cách học dựa trên dự án là gì?

Cách học dựa trên dự án (Project Based Learning – PBL) là một mô hình học tập khác với mô hình hoạt động học tập truyền thống với những bài giảng ngắn, tách biệt và lấy giáo viên làm trung tâm. Các hoạt động học tập dựa trên dự án được thiết kế một cách cẩn thận, mang tính lâu dài, liên quan đến nhiều lĩnh vực học thuật, lấy học sinh làm trung tâm và hoà nhập với những vấn đề và thực tiễn của thế giới thực tại.

Mục tiêu của một dự án (được định nghĩa là việc nghiên cứu có chiều sâu về một chủ đề học tập) là để học nhiều hơn về một chủ đề chứ không phải là tìm ra những câu trả lời đúng cho những câu hỏi được giáo viên đưa ra. Trong các lớp học sử dụng cách học dựa trên dự án, học sinh cộng tác với các bạn trong lớp trong một khoảng thời gian nhất định để giải quyết những vấn đề và cuối cùng trình bày công việc mình đã làm trước một cử toạ ngoài nhóm. Bước cuối cùng có thể là một buổi thuyết trình sử dụng các phương tiện nghe nhìn, một vở kịch, một bản báo cáo viết tay, một trang web hoặc một sản phẩm được tạo ra.

Cách học dựa trên dự án (PBL) không chỉ tập trung vào các chương trình giảng dạy mà còn khám phá các chương trình này, yêu cầu học sinh phải đặt câu hỏi, tìm kiếm những mối liên hệ và tìm ra giải pháp. PBL là một cấu trúc học tập có thể thay đổi môi trường học từ “giáo viên nói” thành “học sinh thực hiện”.

10122012573

Một dự án môn Địa lý trường THCS&THPT Thái Bình, Q.Tân Bình, TP. HCM.

Một dự án môn Địa lý tại trường THCS&THPT Thái Bình, Q.Tân Bình, TP. HCM.

Tóm tắt những yếu tố mạnh mẽ của PBL như sau:

• Tính liên quan: PBL tạo ra kinh nghiệm học tập thu hút học sinh vào những dự án phức tạp trong thế giới thực và học sinh sẽ dựa vào đó để phát triển và ứng dụng các kỹ năng và kiến thức của mình. Nội dung khoá học có ý nghĩa hơn nhiều bởi vì nó dựa trên việc học hỏi từ thế giới thực và học sinh có thể tìm thấy hứng thú trong việc học.

• Tính thách thức: PBL khuyến khích học sinh giải quyết những vấn đề phức tạp mang tính hiện thực. Các em khám phá, đánh giá, giải thích, và tổng hợp thông tin một cách có ý nghĩa. Ví dụ, xây dựng kế hoạch cho một “ngôi trường lý tưởng”, hoàn thiện một chương trình giảng dạy, miêu tả công việc, thiết kế sơ đồ nhà, xây dựng tiêu chí tuyển chọn và đưa ra lý do cho từng kế hoạch. Tất cả những hoạt động này yêu cầu học sinh phải có tư duy sâu sắc về công việc của mình.

• Gây hứng thú: PBL được cộng đồng giáo dục thừa nhận là phương pháp học có ý nghĩa, thúc đẩy ham muốn học tập của học sinh, tăng cường năng lực hoàn thành những công việc quan trọng và niềm khát khao được đánh giá các kết quả đã hoàn thành. Khi học sinh có cơ hội kiểm soát được việc học của chính mình thì giá trị của việc học đối với các em cũng tăng lên. Cơ hội lựa chọn và kiểm soát, cũng như cơ hội cộng tác với các bạn cùng lớp sẽ làm tăng hứng thú học tập của các em. Ví dụ khi học sinh tham gia một cách nghiêm túc vào một dự án, như thiết kế và xây dựng một cây cầu bằng những chiếc tăm để nghiên cứu những khái niệm kỹ thuật, các em sẽ tham gia nhiệt tình hơn trong giờ học để hoàn thiện công việc. Kết quả là các khái niệm về kỹ thuật và toán học được tiếp thu một cách chủ động trong một môi trường gắn kết hơn.

• Tính liên môn: PBL yêu cầu học sinh sử dụng thông tin của những môn học khác nhau để giải quyết vấn đề. Trong hầu hết các dự án PBL, học sinh phải làm những bài tập liên quan đến nhiều mảng kiến thức. Ví dụ, khi viết một cuốn sách về thiếu nhi Nhật Bản, học sinh sẽ gắn mình với những vấn đề như địa lý, lịch sử, văn hoá…

• Tính xác thực: PBL yêu cầu học sinh tiếp thu kiến thức theo cách học của người lớn là học và trình diễn kiến thức. Ví dụ, khi học sinh phải làm dự án viết tài liệu quảng bá về trường mình bằng tiếng Anh, các em sẽ tiếp thu được những kiến thức và kỹ năng thực tế.

• Khả năng cộng tác: PBL thúc đẩy sự cộng tác giữa các em học sinh và giáo viên và giữa các em học sinh với nhau; trong nhiều trường hợp, sự cộng tác được mở rộng đến cộng đồng. Tất cả các bộ môn đều thừa nhận tầm quan trọng của phương pháp làm việc mang tính cộng tác của học sinh như một phương tiện làm phong phú hơn và mở rộng sự hiểu biết của học sinh về những điều các em đang học.

• Sự vui nhộn: Học sinh rất thích phương pháp học dựa trên dự án. Nhiều giáo viên sử dụng PBL cho biết các em rất mong được đến trường học tập.

PBL trong lớp học

IMG_0688

Trong các lớp học PBL, các dự án thường được thực hiện theo các nhóm nhỏ học sinh trong lớp, đôi khi là cả lớp và đôi khi chỉ có một cá nhân học sinh. Mục tiêu chính của dự án là để tìm ra câu trả lời về chủ đề do học sinh, giáo viên hoặc giáo viên cùng học sinh đặt ra. Khi học sinh nhận được bài tập hoặc những thông tin chi tiết về dự án của mình, các em sẽ quyết định cách thức giải quyết những vấn đề được đưa ra. Thường thì học sinh sẽ được yêu cầu phải đóng vai một nhà khoa học thực sự, một nhà kinh doanh, một nhà thám hiểm, một viên chức nhà nước, một nhà địa lý hoặc nhà sử học.

Ví dụ, một nhóm học sinh có thể phải đóng vai ủy viên của Uỷ ban Tư vấn Môi trường Quốc tế với nhiệm vụ phải đưa ra những giải pháp cho những vấn đề môi trường. Tất nhiên, giáo viên sẽ cung cấp những thông tin nền và những chỉ dẫn, nhưng học sinh phải có trách nhiệm tìm ra phương hướng và cách thức giải quyết vấn đề trong phạm vi những tiêu chí do giáo viên đặt ra.

Quá trình PBL được mô tả như sau (Savoie và Hughes):

1. Xác định một vấn đề phù hợp với học sinh.

2. Liên kết vấn đề với thế giới của các em.

3. Tổ chức chủ đề xung quanh vấn đề/dự án chứ không phải môn học.

4. Tạo cho học sinh cơ hội để xác định phương pháp và kế hoạch thú nhận kiến thức để giải quyết vấn đề.

5. Khuyến khích sự cộng tác bằng cách tạo ra các nhóm học tập.

6. Yêu cầu tất cả học sinh trình bày kết quả học tập dưới hình thức một dự án hoặc chương trình.

Lợi ích và thách thức của PBL

IMG_0735

Có rất nhiều lợi ích khi sử dụng PBL trong lớp học. Như đã đề cập ở phần trước, PBL gây hứng thú cho học sinh học tập. Khi học sinh có cơ hội để định hướng việc học của mình, các em sẽ coi trọng việc học hơn. Do các em phải đề xuất và tham gia những nghiên cứu có chiều sâu, việc học tập của học sinh được mở rộng ra ngoài những vấn đề trước mắt. Học sinh cũng học được kỹ năng nghiên cứu có giá trị và kỹ năng quan sát mà họ không thể có được từ các bài giảng truyền thống.

Các nghiên cứu đã cho thấy rằng, học sinh tham gia cách học dựa trên dự án có khả năng lĩnh hội kiến thức và phát triển kỹ năng cao hơn. Thông tin các em thu nhập được cũng được truyền tải thông qua những ngữ cảnh khác nhau bởi các em được dạy cách tìm và tư duy về thông tin hơn là ghi nhớ các dữ kiện.

PBL cũng khuyến khích những học sinh tự giải quyết vấn đề một cách đầy đủ. Điều đó dạy cho học sinh cách cộng tác với nhau cũng như tìm cách để lắng nghe và giao tiếp. PBL hỗ trợ kỹ năng giao tiếp của học sinh. Học sinh không học cách nghĩ gì mà thay vào đó là nghĩ như thế nào.

Mặc dù phương pháp học dựa trên dự án đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng có những thách thức. Để xây dựng và thực hiện PBL phải mất rất nhiều thời gian. Với nhiều bài kiểm tra gắt gao, nhiều giáo viên sẽ cảm thấy phải chịu áp lực trong việc thực hiện chương trình giảng dạy PBL so với phong cách truyền thống. Tuy nhiên, kết quả cho thấy rằng các sinh viên y khoa tham gia vào PBL có điểm học tập trong các kỳ thi cao hơn so với các sinh viên được dạy theo phong cách truyền thống.

Một thách thức nữa là rất nhiều học sinh đã theo học phương pháp dạy truyền thống nhiều năm trước khi các em tham gia PBL. Các em không quen với việc chủ động định hướng quá trình học tập và do đó sẽ gặp nhiều khó khăn khi phải làm như vậy. Tương tự, rất nhiều giáo viên cảm thấy thoải mái với vai trò giảng dạy theo phương pháp truyền thống. Khi họ bắt đầu áp dụng PBL thì đó là thời kỳ chuyển tiếp khó khăn. Vì vậy cần phải làm tốt công tác phát triển cán bộ trước khi thực hiện PBL.

Chắc bạn còn nhớ trường hợp hai lớp học môn Địa lý của học sinh lớp 12 mà chúng ta đã đến thăm. Hãy hình dung tương lai của các học sinh trong mỗi lớp. Lớp học nào sẽ tạo ra được sự hứng thú học môn Địa lý cho các em? Học sinh lớp nào giải thích được sự phong phú và đa dạng của trái cây vùng Nam Bộ ngay cả khi đã thi hết môn? Học sinh lớp nào sẽ học được nhiều hơn? Giáo viên thường băn khoăn “Làm sao để học sinh tư duy mang tính phê phán?”. Học sinh thắc mắc “Tại sao em phải làm bài tập này?”. PBL sẽ là lời giải đáp cho cả hai câu hỏi này.

Công nghệ và cách học dựa trên dự án

Công nghệ thông tin đóng một vai trò rất quan trọng trong bất kỳ lớp học nào, nhưng nó chỉ đặc biệt có tác động mạnh mẽ khi kết hợp với cách học dựa trên dự án. Nâng cao chất lượng dạy và học trên cơ sở sử dụng công nghệ thông tin.

Công nghệ thông tin (máy tính, các thiết bị kỹ thuật số, phần mềm và mạng) có những đóng góp đa dạng vào việc dạy và học, nhưng tầm quan trọng đặc biệt của công nghệ có liên quan trực tiếp đến chương trình giảng dạy, hướng dẫn và đánh giá:

• Công nghệ thông tin có thể hỗ trợ công tác giảng dạy và nâng cao chất lượng của các hoạt động học tập, tạo ra nhiều phương pháp tiếp cận học tập, bảo đảm sự tiếp cận với chương trình giảng dạy mà các công nghệ khác không thể làm được. Những ứng dụng công nghệ thông tin đã đem lại những kết quả tích cực cho học sinh bao gồm khả năng cộng tác với sự hỗ trợ của máy tính, các dự án của học sinh, nghiên cứu Internet, tiếp xúc với các chương trình giảng dạy đa phương tiện, xử lý văn bản. Công nghệ thông tin cũng đưa ra những ưu điểm độc đáo không đâu có được, như trong việc đưa ra những hỗ trợ công nghệ thông tin cho các cá nhân khuyết tật hoặc hướng dẫn từ xa thông qua các công cụ Internet hoặc hội thảo video (Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng trong công nghệ thông tin giáo dục).

• Công nghệ thông tin có thể cải thiện việc đánh giá quá trình dạy và học bằng cách đưa ra những phân tích và phản hồi nhanh chóng và bằng cách hỗ trợ các trường và giáo viên sử dụng những đánh giá của học sinh để cải tiến chương trình giảng dạy.

Các bước tiến hành dạy học theo dự án có tích hợp CNTT ở môn Địa lý

Dự án học tập trong tài liệu hướng dẫn này được thiết kế cho học sinh ở cấp trung học cơ sở nhưng được cấu trúc rất linh hoạt, giúp giáo viên dễ dàng sửa đổi cho phù hợp với đối tượng học sinh khác (tức là trên hoặc dưới cấp trung học cơ sở).

Bước 1: Tìm hiểu các vấn đề đang diễn ra xung quanh cuộc sống của học sinh. Các vấn đề này phải có tác động rất rõ nét đối với cuộc sống thường nhật của các em. Những vấn đề này có thể không giống nhau đối với mọi đối tượng học sinh, ví dụ: khi giáo viên dạy bài Di dân và sự bùng nổ đô thị ở đới nóng (Địa lý 7) thì giáo viên có thể chọn bài học này để dạy theo cách dạy học theo dự án nếu như giáo viên đang dạy ở các thành phố lớn như TP.HCM chúng ta, bởi vì nội dung của bài này gắn liền với thực tế cuộc sống đang diễn ra xung quanh các em, ngược lại đối với giáo viên đang dạy ở những vùng miền núi hoặc nông thôn thì chọn bài này để dạy theo cách học theo dự án không phải là lựa chọn tốt.

Bước 2: Tìm kiếm những vấn đề lớn mà thế giới đã và đang và sẽ phải đối mặt. Có rất nhiều vấn đề của thế giới có liên quan đến nội dung của môn Địa lý, ví dụ như vấn đề môi trường và ô nhiễm môi trường, dân số và tác động của dân số đến tài nguyên, môi trường và phát triển kinh tế, địa lý địa phương v.v…Vì vậy đây là một trong những thuận lợi giúp cho việc áp dụng cách dạy học theo dự án vào trong quá trình dạy học của môn Địa lý.

Bước 3: Tìm trong chương trình Địa lý giáo viên đang dạy có những bài (phần) nào có nội dung liên quan đến các vấn đề ở trên. Điều này rất quan trọng vì việc giáo viên xác định được các nội dung đó sẽ giúp họ lựa chọn được các nội dung phù hợp để tiến hành dạy bằng cách dạy học theo dự án có đạt hiệu quả hay không.

Bước 4: Lựa chọn một bài, nhiều bài, hoặc một phần mà giáo viên thấy có khả năng dạy bằng cách dạy học theo dự án có tích hợp CNTT.

Bước 5: Xác định mức độ tư duy của học sinh, nhận thức của học sinh để từ đó xác định được dự án phù hợp với trình độ của học sinh.

Bước 6: Xác định mục tiêu của dự án.

Bước 7: Xây dựng dự án. Giaó viên cần lưu ý khi thực hiện bước này bởi vì dự án sẽ chi phối sản phẩm dự án, từ đó chi phối các hoạt động các hoạt động của học sinh nhằm thực hiện dự án đó. Chính vì vậy, dự án phải có nội dung bao trùm lên toàn bộ bài hoặc phần mà giáo viên lựa chọn, đồng thời cũng phải phù hợp với trình độ nhận thức và tư duy học sinh, tránh để diễn ra tình trạng dự án quá khó hoặc quá dễ đối với học sinh.

Bước 8: Xác định sản phẩm của dự án – đó là một (hay nhiều) sản phẩm cụ thể mà học sinh phải hoàn thành khi thực hiện dự án do giáo viên, đồng thời khi hoàn thành được sản phẩm thì học sinh sẽ đạt được các mục tiêu mà giáo viên đề ra. Vì giáo viên sử dụng cách dạy học theo dự án có tích hợp CNTT, nên các sản phẩm dự án cũng phải liên quan đến CNTT, nghĩa là trong quá trình thực hiện dự án thông qua việc hoàn thành các sản phẩm dự án học sinh sẽ phải sử dụng các kỹ năng CNTT. Ví dụ sản phẩm dự án mà giáo viên có thể yêu cầu học sinh hoàn thành có thể là một hoặc hơn một sản phẩm sau đây: một bài trình diễn đa phương tiện bằng Power Point, một trang báo được soạn thảo bằng Microsoft Word hoặc một trang web thiết kế trên Microsoft Publisher hay Microsoft Front Page.

Bước 9: Giaó viên tìm kiếm các tài liệu hỗ trợ trong quá trình dạy học (cả giáo viên và học sinh). Các tài liệu này bao gồm các tài liệu số, các trang web hoặc các phần mềm có nội dung liên quan đến nội dung dự án. Đối với các tài liệu hỗ trợ cho quá trình học của học sinh, giáo viên lưu ý chỉ cung cấp các tài liệu mang tính định hướng chứ không phải các nội dung cụ thể, việc lựa chon tài liệu nào thì hoàn toàn phụ thuộc vào học sinh.

Bước 10: Giaó viên lập các phiếu đánh giá bài tập của học sinh, giáo viên phát các phiếu đánh giá này trước khi học sinh thực hiện dự án. Những phiếu đánh giá này có hai tác dụng:

Thứ nhất, nó mang tính định hướng cho học sinh, học sinh sẽ biết giáo viên sẽ đánh giá sản phẩm của học sinh theo những tiêu chí nào. Vì thế học sinh sẽ tập trung vào nội dung sản phẩm chứ không phải hình thức sản phẩm.

Thứ hai, Việc giáo viên đánh giá bằng phiếu đánh giá sẽ là hình thức đánh giá tích cực chuyển từ đánh giá một chiều sang đánh giá nhiều chiều (đánh giá từ bản thân học sinh, các học sinh khác, từ nhóm học sinh khác và từ giáo viên).

Bước 11: Giáo viên hướng dẫn học sinh phân nhóm, thường mỗi nhóm từ 4 đến 6 học sinh ở các trình độ khác nhau.

Bước 12: Giáo viên lập kế hoạch sử dụng máy tính, truy cập Internet v.v…tùy thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.

Bước 13: Giaó viên tổ chức một tiết để nêu ý tưởng dự án, giao nhiệm vụ cho các nhóm học sinh, cung cấp nguồn tham khảo, thời gian tiến độ hoàn thành dự án v.v…

Bước 14: Tổ chức một hoặc vài tiết học để học sinh báo cáo sản phẩm, giáo viên cùng học sinh nhóm khác phản biện và cho điểm. Rút kinh nghiệm dự án.

(Trích từ “Hội thảo chuyên đề cụm V, bộ môn Địa lý tại trường THCS&THPT Thái Bình, tháng 12/2012. Thực hiện: Thầy Trần Đức Thịnh).

Nội dung trong tài liệu này được tham khảo từ:

  1. Đặng Văn Đức, Nguyễn Thị Thu Hằng, “Phương pháp dạy học Địa lý theo hướng tích cực”, Nxb Đại học Sư phạm, 2004.
  2. Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc, “Lí luận dạy học Địa lý”, Nxb Đại học Sư phạm, 2004.
  3. Nguyễn Hải Châu, Phạm Thị Sen, Nguyễn Đức Vũ (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS, Nxb Giáo dục.
  4. Nguyễn Thị Kim Liên (2009), “Cơ sở khoa học của việc vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lí 12, THPTTạp chí khoa học ĐHSP TP. HCM (số 29)
  5. “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học”, tài liệu bồi dưỡng giáo viên giai đoạn 2, thuộc chương trình Partner In Learning của Microsoft Việt Nam.
  6. Trần Thị Thanh Thủy, khoa Địa lý, ĐHSP Hà Nội “Sử dụng phương pháp dạy học dự án có ứng dụng CNTT trong dạy học Địa lý ở trường phổ thông” Tạp chí khoa học ĐHSP Hà Nội, 2006.

Phương pháp làm bài thi ĐH, CĐ môn Địa lý

Có thể nói rằng Địa lí là môn thi các thí sinh có khả năng dễ đạt điểm cao hơn so với Lịch sử và Ngữ văn. Tuy nhiên, để làm một bài thi Đại lí đạt điểm cao trong các kì thi tuyển sinh quả là điều không phải dễ. Bằng kinh nghiệm của người nhiều năm giảng dạy và ôn luyện thi Địa lí, tôi xin được trao đổi cùng các em một số kinh nghiệm và nguyên lí để làm tốt bài thi môn Địa lí đạt điểm cao trong kì thi tuyển sinh Đại học – Cao đẳng.

Bando

Cùng các em học

Với cấu trúc, nội dung đề thi tuyển sinh Đại học – Cao đẳng của Bộ GD & ĐT ban hành thì đề thi có hai phần là lí thuyết và kĩ năng:

Phần lí thuyết các đề thi rất đa dạng, tuy nhiên có thể phân thành các dạng chủ yếu sau đây:

– Dạng đề câu hỏi lí giải.

Yêu cầu thí sinh phải trả lời câu hỏi : ‘Tại sao?”. Với dạng đề nầy, đòi hỏi học sinh phải nắm vững kiến thức và biết vận dụng chúng để giải thích một hiện tượng địa lí. Để làm bài tốt, học sinh chú ý tổng hợp các kiến thức được tích lũy và các mối liên hệ nhân quả.

– Dạng đề câu hỏi so sánh.

Yêu cầu học sinh phải phân tích được sự giống nhau và khác nhau giữa hai hay nhiều hiện tượng địa lí. Học sinh không nên trả lời theo kiểu học thuộc bài mà cần phải tổng hợp kiến thức, sau đó phân biệt được sự giống, khác nhau của các hiện tượng địa lí.

– Dạng đề câu hỏi phân tích, chứng minh.

Yêu cầu học sinh chứng minh một vấn đề nào đó về địa lí. Để làm được dạng đề câu hỏi nầy, học sinh cần nắm vững kiến thức và cả số liệu thống kê tiêu biểu để phân tích hoặc chứng minh theo yêu cầu của đề bài.

– Dạng đề thi câu hỏi trình bày.

Đây là dạng đề khá đơn giản, học sinh chủ yếu học thuộc bài là có thể trình bày tốt yêu câu của đề ra. Tuy nhiên học sinh lưu ý là cần nắm chắ đề thi hỏi “cái gì” thì trình bày “caí ấy” cho phù hợp đề bài, tránh tản mạn, lạc đề.

Phần kĩ năng thường phổ biến các dạng như: Vẽ lược đồ Việt Nam và điển các thông tin cần thiết; Vẽ và nhận xét biểu đồ; Nhận xét bảng số liệu.

– Bảng số liệu: Tính toán và nhận xét số liệu thống kê, cần chú ý số liệu có nội dung gì, các nội dung được cụ thể hóa ở chỉ tiêu thống kê cụ thể như thế nào. Về thời gian của số liệu thống kê (một thời điểm hay một chuỗi thời điểm), các đơn vị tính của chỉ tiêu, mối quan hệ có thể có giữa các chỉ tiêu đó… Phải làm rõ được sự thay đổi của các giá trị, các chỉ tiêu theo thời gian, phải chỉ ra được khoảng tăng hoặc giảm mang tính chu kỳ, nhưng cần tránh nêu quá chi tiết mà không nêu được nội dung chính yếu.

– Biểu đồ: Cần rèn luyện các dạng biểu đồ cột, biểu đồ đường hay đồ thị, biểu đồ tròn, biểu đồ miền. Vẽ biểu đồ đòi hỏi sự chính xác về phân chia số lượng, tỷ lệ thời gian, sử dụng các ký hiệu để thể hiện nội dung khác nhau, có ghi chú. Trên biểu đồ phải ghi đầy đủ các yếu tố khác như đơn vị, tên biểu đồ.

– Nguyên tắc khi vẽ lược đồ Việt Nam là phải đảm bảo độ chính xác tương đối về hình dạng, thể hiện được các hệ thống sông chính, các điểm dân cư, khu vực hành chính cơ bản. Vận dụng kiến thức đã học để giải thích hiện tượng Địa lý, giải thích phù hợp và sát với yêu cầu, tránh dong dài.

Từ đặc điểm nội dung, yêu cầu của các dạng đề thi tuyển sinh môn Địa lí nói trên, khi làm bài, học sinh thực hiện theo các thao tác sau:

– Nhận dạng đề thi. Đây là khâu quan trọng hàng đầu, giúp học sinh không bị lệch hướng trong quá trình làm bài. Đề thi thường có từ 3 – 4 câu, trong đó phần lý thuyết thường chiếm từ 65% – 70% tổng số điểm. Cần nhận dạng được đề thi, ví như dạng trình bày hay chứng minh, biểu đồ tròn hay biểu đồ miền, số liệu đã được xử lý hay số liệu thô…

– Phát thảo đề cương cho từng câu hỏi trong đề thi nhằm giúp cho việc phân bố thời gian cho từng câu hỏi hợp lí, chính xác, tránh tình trạng thiếu sót nội dung các câu hỏi trong quá trình làm bài. Để không bị sót ý, viết lặp lại, lan man, lạc đề, vừa có thể theo dõi được bài làm, kịp thời bổ sung ý cho bài viết… thì lập dàn ý cho các câu hỏi trước khi viết là việc làm hết sức cần thiết. Ngay sau khi nhận dạng đề, thí sinh nên tập trung vạch ra các ý tương đối chi tiết theo dạng dàn ý mở. Nên lưu ý, dàn ý là những ý tiêu đề, trọng tâm chứ không phải bài viết hoàn chỉnh vì không đủ thời gian. Phân bố thời gian hợp lý cho từng câu hỏi: thí sinh nên phân bố thời gian đều và phù hợp cho các câu hỏi trong đề bài, và tiêu chí nên căn cứ vào tỷ trọng từng câu hỏi, tức là số điểm của câu hỏi. Nên dành khoảng thời gian từ 15 – 20 phút để phác thảo dàn ý, từ 10 – 15 phút cho việc kiểm tra đọc lại bài.

– Ngoài ra, trong khi làm bài thì chú ý phần dễ làm trước, khó làm sau nhưng phải đảm bảo tính hệ thống, logic trong bài làm, và nên làm ở tất cả các câu chứ không nên tập trung vào một câu nào đó. Với những số liệu thống kê dùng để minh họa cho bài làm được lấy từ sách giáo khoa, hoặc những số liệu đã được cập nhật từ bên ngoài, thí sinh cần nói rõ nguồn gốc và thời điểm của chúng. Khi vẽ biểu đồ, chú ý ghi tên biểu đồ, bảng chú giải và đặc biệt phải có sự tương thích giữa ký hiệu trong bảng chú giải với những ký hiệu đã dùng trong biểu đồ. Trình bày bài thi cũng là một khâu rất quan trọng vì giá trị của một bài thi không những thể hiện ở phần nội dung mà còn ở phương pháp trình bày. Những lợi thế về chữ viết, cách diễn đạt cũng luôn được giám khảo chú ý. Trong thực tế có rất nhiều bài thi trình bày đầy đủ nhưng kết quả không cao vì viết tắt quá nhiều, lỗi chính tả, câu văn lủng củng, trình bày lan man. Chưa kể chữ viết quá xấu sẽ làm mất hứng thú, cảm tình đối với người chấm bài. Bài thi địa lý có thể trình bày ở dạng bài gồm: mở bài, thân bài và kết luận, hoặc dùng trả lời trực tiếp vào câu hỏi, nhưng cần diễn đạt rõ ràng, ngắn gọn, mạch lạc và dễ hiểu.

Theo công bố mới nhất của Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục Bộ GD-ĐT, cấu trúc đề thi trong các kỳ thi quốc gia năm 2011 về cơ bản không thay đổi so với năm trước. Cục cũng không ban hành cấu trúc đề thi các môn, đề thi nằm trong chương trình (chiếm 80 – 90% trong đề thi). Vì vậy, nên bám sát sách giáo khoa và một tài liệu tham khảo ôn tập nhất định, không nên đọc quá nhiều tài liệu và cũng không nên học tủ vì các câu hỏi thường liên quan với nhau. Khi ôn tập, nên hệ thống kiến thức, hệ thống những vấn đề trọng tâm, những câu hỏi liên quan đến vấn đề đó. Nên tập trung học dứt điểm một vấn đề, một giai đoạn, đừng học nhảy cóc lung tung…

Theo24h

Hướng dẫn ôn tập môn Địa lý: Chuyên đề Địa lý tự nhiên

Hướng dẫn ôn tập môn Địa lý: Chuyên đề Địa lý tự nhiên

Thứ Ba, 13/11/2012

Chương trình Địa lí lớp 12 bao gồm 3 phần: Địa lí Tự nhiên Việt Nam, địa lí Dân cư Việt Nam và địa lí Kinh tế Việt Nam. Theo Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học môn Địa lí của Bộ Giáo dục – Đào tạo ban hành tháng 8 năm 2011, chương trình Địa lí 12 cơ bản đã giảm đi một số phần gọn gàng hơn. Nội dung thi tốt nghiệp THPT bao gồm cả phần kiến thức (sách giáo khoa 12) và kĩ năng (tính toán, vẽ biểu đồ, phân tích biểu đồ và bảng số liệu, đọc Atlat)

OnDia

CHUYÊN ĐỀ 1: ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN

Phần này rất nhiều học sinh đánh giá khó và sợ học vì cho rằng đây là kiến thức phải học thuộc lòng. Thực chất, không hoàn toàn như vậy. Các thành phần tự nhiên có mối quan hệ biện chứng với nhau, một đặc điểm của thành phần này sẽ dẫn tới những đặc điểm của các thành phần khác. Vì vậy, để ôn tập phần tự nhiên hiệu quả, chúng ta nên hệ thống hóa kiến thức thành sơ đồ hoặc các bảng thống kê. Các kiến thức địa lí nên học theo phương pháp diễn dịch (đi từ đặc điểm tổng quan đến cụ thể). Ví dụ:

1.     Nội dung: Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ

· Vị trí địa lí:

  Đặc điểm Ý nghĩa
Tự nhiên – Phía Đông Nam của châu Á.- Rìa phía Đông của bán đảo Đông Dương.

– Hệ tọa độ: (kể tên, tọa độ các điểm cực)

– Kề vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương và Địa Trung Hải.

– Quy đinh thiên nhiên mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa.- Tài nguyên khoáng sản đa dạng.

– Tài nguyên sinh vật rất phong phú.

– Thiên nhiên phân hóa đa dạng giữa các vùng tự nhiên khác nhau.

– Nằm trong vùng có nhiều thiên tai trên thế giới (bão, lũ lụt, hạn hán…)

Kinh tế Xã hội – Gần trung tâm của khu vực Đông Nam Á.- Thuộc múi giờ số 7.

– Gần các nước có nền kinh tế phát triển: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn quốc…

– Trên ngã tư đường hàng hải, hàng không quốc tế

– Kinh tế: Thuận lợi trong phát triển kinh tế, hội nhập với thế giới, thu hút vốn đầu tư nước ngoài.- Văn hóa – xã hội: Thuận lợi trong giữ gìn hòa bình, hợp tác hữu nghị và cùng phát triển với các nước láng giềng và các nước trong khu vực Đông Nam Á.

– An ninh quốc phòng: Vị trí nước ta rất quan trọng trong một khu vực kinh tế rất năng động và nhạy cảm với những biến động chính trị trên thế giới. Biển Đông cũng rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế và bảo vệ đất nước.

· Phạm vi lãnh thổ: gồm ba vùng: vùng đất, vùng trời và vùng biển (SGK)

2.     Nội dung: Đặc điểm chung của tự nhiên

a/ Đất nước nhiều đồi núi

· Đặc điểm chung của địa hình: SGK rất ngắn gọn, rõ ràng.

· Khu vực đồi núi:

–         Vùng núi: 4 vùng: Tây Bắc, Đông Bắc, Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam.

  Đông Bắc Tây Bắc Trường Sơn Bắc Trường Sơn Nam
Phạm vi Tả ngạn sông Hồng Giữa sông Hồng và sông Cả Từ phía nam sông Cả tới dãy Bạch Mã Phía Nam dãy Bạch Mã.
Hướng núi Vòng cung Tây Bắc – Đông Nam Tây Bắc – Đông Nam Vòng cung
Hình thái chung – Các cánh cung chụm lại ở Tam Đảo, mở ra phía bắc và đông – Cao nhất cả nước.- Phía Đông và Tây là các dãy núi cao và trung bình. Ở giữa thấp hơn gồm các dãy núi, sơn nguyên và cao nguyên đá vôi. – Các dãy núi song song và so le nhau, cao ở hai đầu và thấp trũng ở giữa.- Kết thúc là dãy Bạch Mã đâm ngang ra biển. – Bất đối xứng rõ rệt giữa 2 sườn Đông – Tây:

Tây Đông
các cao nguyên ba dan bằng phẳng, các bán bình nguyên xen đồi các khối núi cao đồ sộ, sườn dốc chênh vênh.

 

Các dãy núi chính, các sông chính – Cánh cung Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn, Đông Triều.- Các sông: Cầu, Thương, Lục Nam. – Dãy Hoàng Liên Sơn (đỉnh Fanxiphăng 3143m).- Sông Đà, Mã, Chu. – Dãy Giăng Màn, Hoành Sơn, Bạch Mã. – Đỉnh Pu xai lai leng (2711m), Rào Cỏ (2235m).- Sông Cả, Gianh, Đại, Bến Hải… – Đỉnh Ngọc Linh (2598m), Ngọc Krinh (2025m), Chư Yang Sin (2405m), Lâm Viên (2287m)…- Sông Cái, Ba, Đồng Nai…

–  Vùng bán bình nguyên và đồi trung du: Vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, cao khoảng 100 – 200m: Đông Nam Bộ, rìa đồng bằng sông Hồng…

· Khu vực đồng bằng: ¼ diện tích, gồm 2 loại: đồng bằng châu thổ và đồng bằng ven biển.

  Đồng bằng sông Hồng Đồng bằng sông Cửu Long Đồng bằng duyên hải miền Trung
Diện tích Khoảng 15.000km2 Khoảng 40.000km2 Khoảng 15.000km2
Điều kiện hình thành Phù sa hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình Phù sa sông Tiền và sông Hậu Chủ yếu là phù sa biển
Địa hình Cao ở rìa phía tây và tây bắc, thấp dần ra biển.Bị chia cắt thành nhiều ô.

Có hệ thống đê ven sông

Trong đê có các khu ruộng cao và các ô trũng ngập nước

Thấp và bằng phẳng hơn đồng bằng sông HồngCó mạng lưới sông ngòi kênh rạch chằng chịt

Không có đê ngăn lũ: mùa lũ bị ngập trên diện rộng, mùa cạn bị thủy triều xâm nhập

Có các vùng trũng lớn: Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên…

Hẹp ngang, bị chia cắt thành nhiều đồng bằng nhỏThường có sự phân chia thành ba dải:

Trong cùng Giữa Giáp biển
Cao hơn Thấp, trũng Cồn cát, đầm phá

 

Đất Trong đê không được bồi đắp nên bạc màu, ngoài đê màu mỡ hơn Đất phù sa màu mỡ được bồi đắp thường xuyên.2/3 diện tích là đất mặn và đất phèn. Nghèo dinh dưỡng, nhiều cát, ít phù sa sông

· Ảnh hưởng của thiên nhiên các khu vực địa hình trong phát triển kinh tế – xã hội. (phần này SGK viết rất ngắn gọn, nên hệ thống lại thành bảng theo mẫu dưới đây để hiểu nhanh hơn và dễ so sánh hơn)

  Khu vực đồi núi Khu vực đồng bằng
Thế mạnh  
Hạn chế  

 b/ Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển

· Khái quát về biển Đông: SGK

· Ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam

  Ảnh hưởng của biển Kết quả
Khí hậu Tăng độ ẩm của các khối khí đi qua biển Lượng mưa và độ ẩm lớnGiảm bớt lạnh khô vào mùa đông và nóng bức vào mùa hạ

Khí hậu mang nhiều đặc tính của khí hậu hải dương nên điều hòa hơn

Địa hình ven biển Tác động phong hóa, mài mòn của sóng, dòng biển, thủy triều đến vùng ven biển Địa hình ven biển rất đa dạng:Vịnh cửa sông, bờ biển mài mòn, tam giác châu có bãi triều rộng, bãi cát, đàm phá, cồn cát, vũng vịnh, đảo ven bờ, rạn san hô…
Hệ sinh thái vùng ven biển Khí hậu ven biển có độ ẩm cao hơn, đất nhiễm mặn, phèn Hệ sinh thái ven biển rất đa dạng và giàu có: HST rừng ngập mặn, HST trên đất phèn, HST rừng trên đảo…
Tài nguyên thiên nhiên vùng biển Thềm lục địa có nhiều khoáng sản.Phong hóa mạnh vùng địa hình ven biển.

Ven biển có nhiệt độ cao, nhiều nắng.

Có nhiều bể dầu và khí có giá trị.Các bãi cát ven biển có trữ lượng lớn titan.

Thuận lợi cho nghề làm muối, nhất là ven biển Nam Trung Bộ.

Thiên tai Bão, sạt lở bờ biển, cát bay, cát chảy, thủy triều xâm nhập mặn đất đai… Ven biển nhiều lũ lụt làm thiệt hại nặng nề về người và tài sản, ảnh hưởng đến sản xuất.Làm hoang mạc hóa đất đai…

c/ Thiên nhiên nhệt đới ẩm gió mùa

· Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa:

– Tính chất nhiệt đới: nêu biểu hiện (tổng bức xạ, cân bằng bức xạ, nhiệt độ trung bình năm, tổng số giờ nắng) và nguyên nhân.

– Lượng mưa, độ ẩm lớn: nêu biểu hiện (lượng mưa trung bình năm, độ ẩm không khí, cân bằng ẩm) và nguyên nhân.

– Gió mùa: nêu nguyên nhân, thời gian, nguồn gốc, hướng gió, tính chất của gió, phạm vi hoạt động, kiểu thời tiết đặc trưng của gió mùa mùa đông, gió mùa mùa hạ

Gió mùa Thời gian Nguồn gốc Hướng gió Tính chất Phạm vi hoạt động Kiểu thời tiết đặc trưng
Mùa đông Từ tháng XI – IV Khối khí lạnh phương Bắc từ cao áp Xibia Đông Bắc Lạnh khô Miền Bắc (Từ dãy Bạch Mã trở ra Bắc) – Nửa đầu mùa đông lạnh khô- Nửa sau mùa đông lạnh ẩm, mưa phùn ở ven biển và đồng bằng Bắc Bộ Bắc Trung Bộ
Tín phong bán cầu Bắc Đông Bắc Khô nóng Miền Nam (Từ Đà Nẵng trở vào Nam) – Mưa ở ven biển Trung Bộ- Khô ở Nam Bộ và Tây Nguyên
Mùa hạ

(Từ tháng V – X)

Đầu mùa hạ (tháng V, VI) Khối khí nhiệt đới ẩm Bắc Ấn Độ Dương Tây Nam Nóng ẩm Cả nước – Mưa lớn ở Nam Bộ và Tây Nguyên- Khô nóng ở phần nam của khu vực Tây Bắc và ven biển Trung Bộ
Giữa và cuối mùa hạ (từ tháng VI – X) Tín phong bán cầu Nam vượt xích đạo lên Tây Nam Nóng ẩm Cả nước – Mưa lớn kéo dài ở Nam Bộ và Tây Nguyên- Khô ở Duyên hải Nam Trung Bộ

– Mưa tháng IX ở Trung Bộ (Kết hợp dải hội tụ nhiệt đới)

– Mưa ở Bắc Bộ (gió chuyển hướng thành Đông Nam vào)

–   Sự phân mùa khí hậu:

+ Miền Bắc: Mùa đông lạnh, ít mưa, mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều.

+ Miền Nam: Mùa khô và mùa mưa rõ rệt

+ Tây Nguyên và ven biển Trung Bộ có sự đối lập về mùa khô và mùa mưa.

· Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của các thành phần tự nhiên khác:

Thành phần Biểu hiện Nguyên nhân
Địa hình – Xâm thực mạnh ở miền đồi núi- Bồi tụ nhanh ở đồng bằng hạ lưu sông Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa (quá trình phong hóa, xâm thực, vận chuyển mạnh)
Sông ngòi – Mạng lưới sông ngòi dày đặc- Nhiều nước, giàu phù sa

– Chế độ nước theo mùa

– Phong hóa mạnh, lượng mưa lớn- Lượng mưa lớn, vật liệu của xâm thực nhiều

– Gió mùa, mưa theo mùa

Đất – Lớp đất dày- Đất feralit là loại đất chính ở vùng đồi núi – Nhiệt ẩm cao nên phong hóa mạnh- Mưa nhiều, rửa trôi mạnh trên đá mẹ axit ở vùng đồi núi thấp
Sinh vật Đa dạng, phong phúHệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm gió mùa với các thành phần loài nguồn gốc nhiệt đới chiếm ưu thế. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có đường biển dài, địa hình và đất đa dạng

c/ Thiên nhiên phân hóa đa dạng

· Thiên nhiên phân hóa theo Bắc – Nam:

–         Nguyên nhân: Lãnh thổ trải dài trên 15 vĩ độ nên khí hậu có sự thay đổi theo vĩ độ.

–         Đặc điểm tiêu biểu về khí hậu, cảnh quan của phần lãnh thổ phía Bắc và phía Nam (SGK)

· Thiên nhiên phân hóa theo Đông – Tây

–         Nguyên nhân: Địa hình nước ta cao ở phía Tây và thấp dần về phía Đông; ảnh hưởng của các dãy núi hướng Tây Bắc – Đông Nam; ảnh hưởng của biển Đông.

–         Đặc điểm tiêu biểu về thiên nhiên của 3 dải: vùng biển và thềm lục địa, vùng đồng bằng ven biển, vùng đồi núi. (SGK)

· Thiên nhiên phân hóa theo độ cao:

–         Nguyên nhân: do sự thay đổi của khí hậu theo độ cao

–         Đặc điểm tiêu biểu của 3 đai: đai nhiệt đới gió mùa, đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi, đai ôn đới gió mùa trên núi.

·  Các miền địa lí tự nhiên: dựa vào SGK và Atlat Địa lí Việt Nam, tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của 3 miền theo gợi ý sau:

  Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ Miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ
Phạm vi
Địa chất – địa hình
Khí hậu
Sông ngòi
Sinh vật
Khoáng sản
Thuận lợi
Khó khăn

3.     Nội dung: Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên

a/ Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Đối với mỗi loại tài nguyên, học sinh cần tìm hiểu việc sử dụng và bảo vệ theo các nội dung sau:

Tài nguyên Hiện trạng Nguyên nhân Biện pháp sử dụng và bảo vệ
Rừng
Đa dạng sinh học
Đất
Nước
Khoáng sản
Biển

b/ Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai

· Bảo vệ môi trường: có 2 vấn đề quan trọng nhất trong bảo vệ môi trường ở nước ta: tình trạng mất cân bằng sinh thái môi trường và tình trạng ô nhiễm môi trường. (Học sinh nên hệ thống kiến thức theo gợi ý dưới đây)

Vấn đề Biểu hiện Nguyên nhân Giải pháp
Mất cân bằng sinh thái môi trường
Ô nhiễm môi trường  

· Một số thiên tai chủ yếu và biện pháp phòng chống:

(Học sinh nên hệ thống kiến thức theo gợi ý dưới đây)

Thiên tai Tình hình Hậu quả Biện pháp phòng chống
Bão
Ngập lụt
Lũ quét
Hạn hán
Các thiên tai khác

· Chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên và môi trường: bảo vệ đi đôi với phát triển bền vững. (nội dung các nhiệm vụ của chiến lược:SGK)

GIỚI THIỆU MỘT SỐ CÂU HỎI

Câu 1: Phân tích những thuận lợi và khó khăn do vị trí địa lí mang lại đối với tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng ở nước ta.

Câu 2: Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, nêu đặc điểm chung của địa hình Việt Nam.

Câu 3: Nêu những điểm khác nhau về địa hình giữa hai vùng núi Đông Bắc và tây Bắc, Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam.

Câu 4: So sánh đặc điểm của hai đồng bằng châu thổ ở nước ta.

Câu 5: Em thích định cư ở miền núi hay đồng bằng? Vì sao?

Câu 6: Biển Đông có ảnh hưởng như thế nào đến khí hậu, địa hình và các hệ sinh thái ven biển nước ta?

Câu 7: Biển Đông đã mang lại cho nước ta những thuận lợi và khó khăn gì trong đời sống và sản xuất?

Câu 8: Vì sao khí hậu nước ta lại mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa?

Câu 9: Trình bày hoạt động của gió mùa ở nước ta và hệ quả của nó đối với sự phân chia mùa khác nhau giữa các khu vực.

Câu 10: Vì sao địa hình, sông ngòi, đất, sinh vật nước ta lại mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa? Biểu hiện của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa qua các thành phần này như thế nào?

Câu 11: Nêu đặc điểm của mỗi miền địa lí tự nhiên. Những thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng tự nhiên của mỗi miền?

Câu 12: Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy so sánh sự khác nhau về tự nhiên giữa miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ với miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ của nước ta.

Câu 13: Trình bày hoạt động và hậu quả của bão ở Việt Nam. Nêu một số biện pháp phòng chống bão.

GỢI Ý TRẢ LỜI MỘT SỐ BÀI TẬP

I/ BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VÀ PHÂN TÍCH BẢNG SỐ LIỆU

1.     Bài tập 2/SGK trang 44

– Yêu cầu bài: Nhận xét về sự thay đổi nhiệt độ từ Bắc vào nam và giải thích nguyên nhân.

– Cách làm: Nên nhận xét theo từng cột dọc của bảng số liệu và kết hợp giải thích nguyên nhân ngay sau mỗi ý nhận xét

Không nên: Nhận xét hết các cột rồi mới giải thích nguyên nhân. Nếu làm như vậy, khi giải thích sẽ phải nhắc lại các ý đã nhận xét và rất có thể bị thiếu ý.

– Cụ thể: nhận xét và giải thích về cột Nhiệt độ trung bình năm trước, sau đó lần lượt đến cột Nhiệt độ trung bình tháng I và tháng VII:

+ Nhiệt độ trung bình năm tại các địa điểm từ Bắc vào Nam đều cao hơn 200C và có sự tăng dần từ Bắc vào Nam. Nguyên nhân: do vị trí nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến và lãnh thổ hẹp ngang, dài theo chiều Bắc Nam nên từ bắc vào nam, vĩ độ giảm dần, càng gần xích đạo, góc nhập xạ trung bình năm càng lớn vì thế nhiệt độ trung bình năm tăng dần.

+ Nhiệt độ trung bình tháng I cũng tăng dần từ Bắc vào Nam. Từ Lạng Sơn đến Huế, nhiệt độ trung bình tháng I không vượt quá 200C (nguyên nhân: ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, càng vào phía nam, ảnh hưởng này càng yếu đi). Từ Đà Nẵng vào đến TP. Hồ Chí Minh, nhiệt độ cũng tăng dần và trên 200C (nguyên nhân: ảnh hưởng của gió tín phong đông bắc)

+Nhiệt độ trung bình tháng VII rất cao, trên 270C, từ Bắc vào Nam có sự thay đổi qua các địa điểm như sau:

Từ Lạng Sơn đến Huế: nhiệt độ tăng dần (do góc nhập xạ cũng tăng dần và chịu ảnh hưởng của hiệu ứng Phơn do gió Tây nam từ Bắc Ấn độ dương gây ra). Lạng Sơn nhiệt độ thấp hơn Hà Nội do nằm ở vĩ độ cao hơn và có địa hình cao hơn. Huế nóng nhất do ảnh hưởng sâu sắc của gió Lào khô nóng.

Đến Đà Nẵng, nhiệt độ thấp hơn Huế do Huế bị chặn bởi một bên là dãy Trường Sơn Bắc, một bên là dãy Bạch Mã nên ảnh hưởng hiệu ứng phơn sâu sắc của gió Tây Nam.

Từ Đà Nẵng đến Quy Nhơn, nhiệt độ lại tăng dần, Quy Nhơn nóng nhất cả nước (29,70C), đến TP Hồ Chí Minh nhiệt độ lại giảm xuống còn 27,10C. Mặc dù TP. Hồ Chí Minh gần xích đạo hơn nhưng lúc này là mùa mưa lớn do ảnh hưởng của gió Tây Nam nên làm giảm bớt nhiệt độ. Đà Nẵng và Quy Nhơn nằm phía Đông của dãy Trường Sơn Nam nên tháng 7 là mùa khô, nóng hơn.

2.     Bài tập 3/SGK trang 44

– Yêu cầu: So sánh, nhận xét và giải thích về lượng mưa, lượng bốc hơi và cân bằng ẩm của Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh.

– Cách làm: tương tự như bài 2 ở trên.

– Cụ thể:

–         Lượng mưa: Chỉ ra nơi nào mưa nhiều nhất, nơi nào mưa ít nhất (dẫn chứng số liệu). Giải thích vì sao?

–         Lượng bốc hơi: Chỉ ra nơi nào bốc hơi nhiều nhất, nơi nào bốc hơi ít nhất (dẫn chứng số liệu). Giải thích vì sao?

–         Cân bằng ẩm (hiệu số giữa lượng mưa và lượng bốc hơi): Kết hợp từ hai ý nhận xét trên để rút ra nhận xét về cân bằng ẩm của mỗi địa điểm.

II/ BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VÀ PHÂN TÍCH BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG SỐ LIỆU

Bài 1 /SGK trang 50

Yêu cầu: Dựa vào bảng số liệu, biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa của Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, nhận xét và so sánh chế độ nhiệt, chế độ mưa của 2 địa điểm trên.

Cách làm: nhận xét và so sánh về chế độ nhiệt trước sau đó đến chế độ mưa. Chú ý: yêu cầu của bài chỉ là nhận xét và so sánh, không yêu cầu phải giải thích.

Cụ thể:

Chế độ nhiệt: Nhiệt độ TB năm của Hà Nội thấp hơn TP. Hồ Chí Minh nhưng chế độ nhiệt của TP. Hồ Chí Minh điều hòa hơn, còn ở Hà Nội có sự phân mùa. Nhiệt độ TB tháng lạnh nhất của Hà Nội là 16,40C trong khi đó TP. Hồ Chí Minh là 25,70C. Có những thời điểm, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối của Hà Nội xuống đến 2,70C còn TP.Hồ Chí Minh là 13,80C. Nhiệt độ TB tháng nóng nhất của Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh bằng nhau, 28,90C nhưng nhiệt độ tối cao tuyệt đối của Hà Nội lên tới 42,80C, cao hơn TP.Hồ Chí Minh gần 30C. Như vậy, kết quả là, biên độ nhiệt độ TB năm ở Hà Nội khá cao, đạt 12,50C còn ở TP. Hồ Chí Minh chỉ chênh nhau rất ít, biên độ nhiệt TB năm là 3,20C.

Kết luận: Trong chế độ nhiệt, Hà Nội có một mùa nóng và một mùa lạnh, biên độ nhiệt TB năm khá cao. Tp. Hồ Chí Minh quanh năm nóng, chế độ nhiệt điều hòa hơn.

Chế độ mưa: Nhìn vào biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa của hà Nội và TP. Hồ Chí Minh ta thấy: Lượng mưa của TP. Hồ Chí Minh lớn hơn Hà Nội nhưng cả 2 địa điểm đều có chế độ mưa theo mùa: mùa mưa và mùa khô.

Tại Hà Nội, mùa mưa khoảng từ tháng 5 đến tháng 9, trong đó, mưa nhiều nhất vào tháng 7, 8, lượng mưa đạt trên dưới 300mm. Từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, Hà Nội ít mưa, đặc biệt mưa rất thấp vào tháng 12 và tháng 1, khoảng 20 – 25mm.

Tại TP. Hồ Chí Minh, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa lớn, luôn đạt trên 200mm, mưa nhiều nhất vào tháng 9, đạt khoảng 320mm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, khô sâu sắc vào tháng1,2,3, lượng mưa đạt dưới 20mm.

Như vậy, so sánh về chế độ nhiệt của 2 địa điểm trên ta thấy, Tp. Hồ Chí Minh có mùa mưa dài hơn và mưa lớn hơn Hà Nội còn mùa khô ở TP. Hồ Chí Minh lại khô sâu sắc hơn, mùa khô ở Hà Nội không quá ít mưa như TP.Hồ Chí Minh. Tại Hà Nội, những tháng nóng nhất là những tháng mưa nhiều, những tháng lạnh là những tháng ít mưa. Còn ở TP. Hồ Chí Minh, những tháng mưa nhiều là những tháng có nhiệt độ thấp hơn (do mưa làm dịu bớt) còn những tháng mùa khô là những tháng có nhiệt độ cao hơn một chút.

Th.S. Nguyễn Thị Nga – Trường THPT Chuyên ĐHSP

Học Địa để đi du lịch khắp thế giới

(Dân trí) – Đó là mong muốn của em Thân Đức Huy, hiện học lớp Chuyên Sử – Địa K20 Trường THPT Chuyên Bắc Giang. Trong lễ trao giải thưởng Hoa Trạng Nguyên năm 2012 mới đây, Huy cũng là một trong những gương mặt sáng giá được mọi người quan tâm.

Tôi gặp Huy khi em vừa về Hà Nội để nhận giải thưởng Hoa Trạng Nguyên năm 2012, với gương mặt rạng rỡ, em tâm sự: “Năm nào em cũng về Hà Nội đi chơi hoặc đi du lịch nhưng lần này được về nhận giải thưởng Hoa Trạng Nguyên, em có tâm trạng khác hẳn. Đến đây em còn được gặp nhiều bạn và các anh chị ở khắp mọi nơi cùng về, họ đều là những người rất giỏi nên em có cơ hội học hỏi và giao lưu”.

Biết Huy học lớp chuyên Sử – Địa của Trường THPT chuyên Bắc Giang và đã đạt giải Nhất quốc gia môn Địa năm 2011, tôi hỏi: “Là con trai mà lại “siêu” môn xã hội như thế chắc em phải có niềm yêu thích đặc biệt với bộ môn này?”. Huy cười hiền lành cho biết “Từ nhỏ em thích học các môn tự nhiên hơn nhưng lúc nào cũng thích tìm hiểu về các nước và được đi du lịch nữa. Đến năm lớp 10 thì em mới xác định được hướng đi của mình và chọn học chuyên môn Địa”.

Thân Đức Huy có thành tích học tập đáng khâm phục.

Thân Đức Huy có thành tích học tập đáng khâm phục.

Huy kể, môn Địa mang lại cho em nhiều niềm vui và sự thú vị rất đặc biệt. Vốn yêu thích và đam mê được đi du lịch nên em càng say sưa học hơn để tìm hiểu về vị trí, cảnh đẹp, phong tục tập quán của các nước trên thế giới. Mỗi một vùng miền, quốc gia lại có những nét đặc trưng riêng mà Huy muốn khám phá nên việc học với em càng thêm thu hút bởi “mỗi ngày lại là một điều mới”.

Không giống với suy nghĩ của nhiều người khi cho rằng học các môn xã hội là “dài dòng” và “khó hiểu”, với cậu học trò này thì: “Môn Địa là sự kết hợp kiến thức của 2 yếu tố xã hội và tự nhiên nên không hề nhàm chán. Những kiến thức thuộc chuyên ngành xã hội thì ai cũng nhận ra, còn về lĩnh vực tự nhiên thì đó là những bài tập tính tọa độ, xác định phương hướng, lập biểu bảng sao cho khoa học và cần cả năng khiếu vẽ nữa”.

Là con trai lại học chuyên khối C, có nhiều lúc bạn bè vẫn hay trêu cậu là không mạnh mẽ nhưng với thành tích đạt giải Nhất quốc gia môn Địa cộng thêm bản lĩnh, sự dí dỏm thông minh trong cách nói chuyện, Huy đã hoàn toàn khiến các bạn nể phục. Với cậu bé này, những kiến thức mà môn Địa mang lại đã khiến em tự tin hơn rất nhiều khi nói chuyện, kể cả với những người lớn tuổi hơn. Gần 3 năm tìm tòi, học hỏi về bộ môn này, giờ đây Huy đã hoàn toàn tự tin để khẳng định: “Em không bao giờ hối hận vì đã chọn học môn Địa và em yêu thích nó”.

Chia sẻ về bí quyết học của mình, Huy cười cho biết: “Trước tiên phải xác định mình thực sự thích học gì sau đó mới có những cách học sao cho hiệu quả nhất. Với môn Địa, ngoài học những kiến thức trên sách vở phải kết hợp với việc xem bản đồ, xem các chương trình truyền hình và phải biết khái quát liên hệ với nhau. Thêm một điều quan trọng, đó là muốn học tốt và hiểu sâu về môn Địa phải kết hợp học tốt môn Lịch sử để biết về quá trình hình thành và các giai đoạn phát triển của các vùng miền, từ đó mới có thể so sánh để hiểu sâu được”.

Huy dự định năm học này sẽ thi vào Học viện Cảnh sát và tiếp tục tìm hiểu về bộ môn Địa mà em yêu thích. Huy cũng chia sẻ khi có điều kiện em sẽ dành tiền và thời gian để đi du lịch, khám phá những vùng đất mới và đến những đất nước mà từ trước đến giờ em chỉ tiếp cận trên sách vở và truyền hình.

Phạm Oanh

(sưu tầm từ goedu)